Thứ Năm, 29 tháng 8, 2019

Ngược Tô Lịch lên 'long mạch' Tây Hồ: Tại sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được?

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 1.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 2.

Hồ Tây không chỉ là "lá phổi" mập mạp cho toàn Thăng Long xưa và Hà Nội nay, không chỉ là một con hồ điều hòa, luôn phẳng phiu lượng nước, tránh ngập lụt cho cả đô thị, mà đó còn là vùng đất thiêng, nơi sản sinh tiềm thức của người Hà Nội xưa, hay nói rộng hơn đó cũng chính là tâm tức người Việt cũ rích. Về góc nhìn linh tính, cùng với sông Tô Lịch, Hồ Tây được xem như một địa danh tụ thủy.

Vậy tụ thủy là gì?

Cũng như sông Tô Lịch, Hồ Tây vừa là long mạch, vừa là nơi tụ thủy. Tất cả những nơi có tụ thủy thì đều có năng lượng rất lớn trong khoảng dải ngân hà tuyền xuống, vì vậy ở đó thì sẽ có đa số người tài - người ta gọi là tụ nhân. Đã có tụ thủy thì sẽ có tụ nhân. Hay nói một phương pháp dễ hiểu, Hồ Tây là nơi địa linh thiên tài, là nơi sản hiện ra lượng lớn những trị giá vật thể và phi vật thể.

Các giá trị vật thể hay phi vật thể của Hồ Tây đan xen, quất quýt, gắn chặt với nhau như hai mặt của một điều. Nó được biểu lộ qua các truyền thuyết sống động, các ghi chép trong sử sách về địa danh này.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 3.

Những truyền thuyết gắn liền với Hồ Tây hay tên gọi của Hồ Tây đa dạng thiếu gì. Nổi tiếng nhất có nhẽ là sự tích Lạc Long Quân diệt hồ ly tinh ở ngay tại nơi này, được ghi trong Lĩnh Nam chính quái.

Theo đó, khi xưa ở phía tây kinh kì có hòn núi đá lớn bên sông, dưới núi có hang động và cũng là nơi trú ngụ của một con cáo chín đuôi. Nó sống lâu đến nghìn năm ngoái hóa thành tinh, chuyên đi làm điều cường bạo, hãm hại dân lành ở khu vực xung quanh Hồ Tây. Sự ác nghiệt ôn của con hồ ly tinh này không ai không nhân thức, nó khiến vô thiên lủng người phải bỏ công trình, thôn ấp, bỏ cả ruộng đồng giảm thiểu đi nơi khác.

Khi biết tin, Lạc Long Quân ngay tức thì tậu đến để trừ hại cho dân. Trận chiến đầy gay cấn, quyết liệt diễn ra đa dạng hôm sớm, dù con cáo chín đuôi có tài phép thế nào cũng không địch lại Lạc Long Quân, bắt buộc quay trở lại hang ổ của nó ở dưới núi đá. Đến sau cùng, Lạc Long Quân cũng tàn phá được hồ ly, giải cứu cho dân lành bị bắt cóc trong hang sâu, cho họ miếng đất gần đó để làm cho ăn sinh sống, lập nên làng Hồ Khẩu. Còn nơi hồ ly tinh bị thịt sau này có tên hồ Xác Cáo - là Hồ Tây hiện thời.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 4.

Rất xa xưa đi về trước, Hồ Tây còn có tên gọi là hồ Xác Cáo. Nguồn: CiputraHanoi - Hotienphongthuy.

Một cái tên khác - Kim Ngưu (Trâu Quà) cũng có lai lịch không phải phổ biến. Truyền thuyết kể rằng, đời nhà Lý, nước ta có Nguyễn Minh Không sang China chữa bệnh cho con vua Tống. Khi hoàng tử khỏi bệnh, vua Tống trả ơn bằng cách cho phép Minh Không tham gia kho báu chọn món đồ theo ý thích và lấy bao lăm tùy thích nhưng Minh Không chỉ lấy đồng đen (vì đồng đen được coi là "mẹ" của quà) cho vào bao mang về dâng vua Lý. Vua sai đem chỗ đồng đen ấy đúc thành cái chuông.

Chuông đúc hoàn thành mang ra đánh thử. Tiếng chuông vang vọng sang tận Trung Quốc. Nghe tiếng chuông ngân, trâu quà ở bên ấy lồng lên chạy về nơi phát ra tiếng âm thanh. Tới khu rừng phía bắc thành Thăng Long thì tiếng chuông yên bặt. Trâu quà mất phương hướng đã lồng lên đi sắm và giẫm nát cả một khu rừng, còn đất thì lún xuống thành hồ. Những nơi trâu đi thành sông mà ngày nay còn lại di tích, đó là sông Kim Ngưu. Vua sai ném chuông xuống hồ để trâu khỏi lồng thì quả tình nó đã lặn theo. Trong khoảng đó, hồ có tên là Kim Ngưu và bình dân còn ngợi ca:

"Trâu tiến thưởng ẩn mãi giữa hồ,
Nước dù cạn vẫn mù mịt tung tích". 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 5.

Ảnh minh họa sự tích Kim Ngưu. Nguồn: Hannah Hoang.

Cũng theo truyền thuyết này, giả dụ khách hàng nào sinh đủ mười người đại trượng phu thì có thể tới hồ gọi trâu tiến thưởng về. Một lần có người tới gọi được trâu tiến thưởng lên khỏi mặt nước và dắt vào bờ. Đột nhiên, thừng bị đứt, trâu quà chui ngay tham gia hang ở gần đó, tư thục đền thờ gọi là đền Kim Ngưu (gần phủ Tây Hồ hiện thời). Về sau mới nhân thức, người gọi trâu hoá ra chỉ có chín đại trượng phu ruột, người còn lại là đại trượng phu nuôi.

Theo sách Hồn sử Việt, khi vua Lý Công Uẩn dời Hoa Lư lập kinh kì Thăng Long, thấy hồ Kim Ngưu đẹp nên ông thường xuyên doanh nghiệp du ngoạn. Và không ít lần trong những chuyến du trên hồ, sương mù đã bao phủ thuyền của vua phát hành cảnh tượng cực kì kì ảo vì thế hồ được đổi tên là Dâm Đàm. Nhưng theo Đại Việt sử ký toàn thư: "Năm 1573 vua Lê Thế Tông lên ngôi tên húy là Duy Đàm, kiêng húy cấm không được gọi hồ Dâm Đàm, mà đổi gọi là Tây Hồ. Cái tên Tây Hồ có trong khoảng đó".

Ngoài nguyên do trên, có lẽ việc đặt tên này nhằm sánh với phương Bắc, vì ở Hàng Châu cũng có Tây Hồ nổi tiếng trên đất Trung Quốc. Tây Hồ là hồ ở phía tây nhưng theo tiếng Hán đọc là Tây Hồ. Đến đời Tây Đô Vương Trịnh Tạc, năm 1657 vì kiêng chữ Tây nên các địa danh nào có chữ Tây đều bị đổi thành Đoài (Đoài nghĩa là phía Tây) cho nên Tây Hồ được gọi là Đoài Hồ. Nhưng dân Thăng Long vẫn gọi là Tây Hồ.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 6.

Tới triều nhà Tây Sơn, quan điểm về húy kỵ có khác. Sách Đào Khê dã sử kể, sau khi phá hủy quân Thanh, thống nhất Đại Việt, vua Quang đãng Trung đã đánh dấu Thăng Long một thời gian ở để chiêu hiền đức đãi sỹ và bình ổn Bắc Hà.

Một hôm, vua ngự thuyền chơi Tây Hồ, theo hầu có một văn thần họ Đỗ vốn là tiến sĩ nhà Lê, vì muốn lấy lòng vua ông này đã tâu xin vua đổi tên hồ. Quang đãng Trung nghe lời tâu rất kinh ngạc hỏi vì sao lại phải đổi thì văn thần này giải đáp tên hồ trùng với quê vua (Tây Sơn, phủ Qui Nhơn, tỉnh giấc Bình Định).

Quang quẻ Trung nghe xong cười to nói: "Tây Hồ là danh thắng của Thăng Long, người Thăng Long bao đời vẫn yêu mến Tây Hồ, quyến luyến Tây Hồ, lẽ nào nay vì trẫm mà phải đổi tên hồ quen thuộc? Vả chăng trẫm trong khoảng Tây Sơn đến với nhân sĩ, hiền tài Bắc Hà chẳng tốt lắm ru? Khách Tây Sơn, cảnh Tây Hồ đó là duyên tao ngộ, cùng nhau còn đa dạng gắn bó, hẹn hò, cảnh chẳng phụ người, khiến sao người lại phụ cảnh? Nhà ngươi muốn trẫm khiến một việc vô nghĩa với dân Bắc Hà sao?".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 7.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 8.

Có một điều, dù là tên nào, gắn với truyền thuyết dân gian hay được ghi chép tại chính sử, thì nhân tố đó cũng phản ánh được các quá trình lịch sử của Hồ Tây gắn liền với giá trị Thăng Long. Nó đi ra từ trong chính tiềm thức của người Việt cũ kĩ. Vậy nắm bắt đúng thì tiềm thức ở đây là gì?  

Thực tế, người ta không thể xác minh đúng mực được rằng truyền thuyết nào là thật, truyền thuyết nào dựa trên sự thực mà có phần biến tấu, hay truyền thuyết nào được dân gian hóa hoàn toàn. Bởi lẽ, trong truyền thuyết, người ta thường sử dụng những cách nói quá, khoa trương hơn, cường điệu hơn hoặc thần thánh hóa các sự vật, hiện tượng.

Dù thế, tựu tầm thường lại, những truyền thuyết này là item tinh thần của người Hà Nội nói riêng và người Việt cổ nói bình thường. Bất cứ ai, dù ở thời nào cũng đều cần một chỗ dựa về mặt ý thức thì mới có thể sống được. ngừng thi côngĐây chính là sự khai tạo dựng về mặt tiềm thức. Không có truyền thuyết, không có chỗ dựa tinh thần, không có tâm thức, họ không sống nổi. Bởi trong chính những truyền thuyết đó, cái thiện luôn chiến thắng cái ác nghiệt, người tốt luôn tiến công bại được những thần thế hắc ám.

Tức là ở đây, con người cần dựa vào một trị giá tư tưởng để sinh tồn, đó chính là tiềm thức.Có thể nói, những truyền thuyết về Hồ Tây, trong khoảng tên gọi cho tới những câu chuyện dân dã đều có giá trị rất lớn về mặt tiềm thức, là vật phẩm về mặt ý thức của người Việt cổ lỗ, là trị giá phi vật thể chẳng thể cân đong đo đếm.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 9.

Ngược dòng dĩ vãng, không bạn nào nhân thức Hồ Tây xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết đã rất xa xưa rồi, chắc chắn có trong khoảng trước công nguyên. Rồi người ta cũng đặt ra giả định là nó là một khúc sông hồng ngày xưa, khi lũ lụt lớn quá nước đổ vào đấy, sau đó hình thành một cái hồ, có thể coi là hồ thiên tạo.

Cũng có người nghĩ rằng Hồ Tây xưa là khúc uốn của sông Hồng khi sông đổi dòng chảy lấn về bờ bên kia đã để lại một hồ nước, giống như việc sông Hồng đổi dòng đã phát hành hồ Lục Thủy. Thực tế thì sông Hồng đã phổ quát lần đổi dòng làm cửa sông Cà Lồ (ở phố Trung Hà, quận Yên ổn Lạc Vĩnh Phúc) bị cát bồi lấp dẫn tới Cà Lồ trở thành con sông chết. Nếu bằng lòng giả thuyết đó thì Hồ Tây có từ bao giờ vẫn là câu hỏi không dễ tư vấn.

Nguồn: Nguyenvannhi - Phamtienhong. 

Rồi cũng từ nơi đây, có những ghi chép về việc Hai Bà Trưng từng tấn công trận những năm đầu công nguyên hay Lý Nam Đế chống quân xâm lược nhà Lương thì khi đó Hồ Tây cũng đã có rồi. Trong khoảng đó để có thể thấy, con hồ hình bán nguyệt cứ lặng lẽ sánh bước cùng Hà Nội cũng đã có lịch sử hàng ngàn năm tuổi.

Nếu như như nói Hồ Tây được hình thành trong khoảng trước cả công nguyên, vậy lúc trước hình hài của nó như thế nào? Nó đứng trơ trọi hay hòa chính mình tham gia màng lưới sông nước của Thăng Long xưa? Nguồn nước của Hồ Tây đến trong khoảng đâu?

Để hiểu được ngành ngọn, chúng ta lại một lần nữa phải ngược dòng lịch sử, truy tìm nguyên về giai đoạn trước tiên của địa danh này. Kể từ thời xa xưa cho đến thế kỷ 17, Hồ Tây vẫn cung cấp nước bởi 3 nguồn chính. Một là sông Thiên Phù, ở phía Tây Bắc Thăng Long. Cửa sông bắt nguồn trong khoảng làng Phú Thượng, Nhật Tân, chảy qua Xuân La, Xuân Đỉnh rồi đến ngã ba chợ Bưởi. Nguồn thứ nhì nữa là nước do sông Tô Lịch cấp, ở nhì cửa sông là Quán ăn Gạo và Giang Khẩu. Dường như, một nguồn nước khác cũng có thể coi cung ứng nước cho Hồ Tây là nước mưa. Đây là nguồn rất lớn, bởi hàng năm tới mùa mưa thì nước mưa đổ xuống miền bắc tất cả mà Hồ Tây là hồ rộng nên nó tích được lượng lớn nước.

Hình như đó, vì đáy sông Hồng ở cửa sông Thiên Phù cao hơn đáy sông Hồng ở đoạn Hà Khẩu nên tham gia bốn tuần không mưa, nước sông Hồng chảy vào Thiên Phù, qua Tô Lịch tham gia Hồ Tây, tiếp tục đưa nước ra cửa Hà Khẩu nhập với dòng sông Hồng. Nhưng trong 04 tuần mưa bằng hữu, do nước trong khoảng đầu nguồn dồn về liên tục nên nước sông Hồng dâng cao đã đẩy nước chảy tham gia Tô Lịch và tuy nhiên đổ một phần vào Hồ Tây. Bởi vậy trước đó ở sông Tô Lịch có hiện tượng nghịch thủy.

Dĩ nhiên, như đã nói ở trên, việc này chỉ kéo dài đến thế kỷ 17 bởi sau đó sông Thiên Phù bị cát bồi lắng ngoài cửa sông dẫn đến dần dần biến mất và Hồ Tây mất đi một nguồn cấp nước không nhỏ. Thời gian đúng mực sông Thiên Phù bặt tăm thì khó khăn mà nói ra tận tường, nhưng chắc chắn nó rơi vào khoảng cuối thế kỷ 17. Tới lúc này, Hồ Tây chỉ còn nhị nguồn cung chính tới trong khoảng sông Tô Lịch và lượng nước mưa hàng năm.

Khoảnh khắc thơ mộng của Hồ Tây mỗi khi hoàng hôn buông xuống. Nguồn: Meogia - Vietravel.

Vào mùa mưa, nước Hồ Tây dâng lên rất cao, do nước sông Tô Lịch đổ tham gia, nhưng đến mùa khô thì trái lại, Hồ Tây trở thành nơi cung ứng nước cho sông. Cho đến cuối thế kỷ 19, năm 1889, khi mà xây chợ Đồng Xuân, người Pháp mới lấp đoạn đầu của sông Tô đi để xây dựng, nay tương ứng với đoạn chợ Đồng Xuân, khu vực Hàng Chiếu, ăn ra Hàng Lược, thì người ta lấp đoạn đấy để làm chợ. Sau đó mới làm cho cống bê tông ra tận Phan Đình Phùng, chỗ gần trường Chu Văn An hiện thời. Tính cho đến lúc này, Hồ Tây chỉ còn lại nguồn nuớc chính là lượng mưa hàng năm

Nhưng mặt khác, Hồ Tây cũng sinh ra thêm một nguồn cung mới dù không đáng kể, đó là một phần nước thải của phía Bắc thị trấn chảy ra. Tức là khi người ta cống hóa đoạn đầu sông Tô Lịch, thì cùng lúc cũng làm cho chuỗi hệ thống thoát nước ở phía Bắc chảy ra đoạn cống đấy và nó chạy theo đoạn sông Tô Lịch còn lại chảy về Hồ Khẩu rồi đổ tham gia Hồ Tây. Nhưng lượng nước sinh hoạt thải ra hồ về căn bản không phổ biến và cần thiết là lúc đó, nó cũng không gây ô nhiễm cho hồ. Sau cuối, khi người Pháp phá thành vào năm 1897 thì họ cũng lấp đoạn sông Tô Lịch còn lại và đoạn ở làng Hồ Khẩu hiện nay. Tức thị tính trong khoảng cuối thế kỷ 19, nguồn nước độc nhất cung ứng cho Hồ Tây là nước mưa.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 12.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 13.

Phổ thông năm trở lại đây, mỗi khi vào mùa sen, phụ nữ khắp nơi lại lên Hồ Tây, diện áo yếm, áo dài chụp ảnh với hoa sen. Không còn là trào lưu tạm thời, vấn đề đó đã biến thành một hoạt động văn hóa đẹp, lãng mạn, thấm sâu trong đời sống tiến bộ bây giờ. Cũng không nhân thức nét văn hóa này mở màn trong khoảng bao giờ, nhưng lúc trước một vài chục năm thì ko phải có. Câu chuyện về sen Hồ Tây ngày xưa khác.

Thiếu phụ tự sướng bên sen. Nguồn: Phapluatplus.

Có  thể nói, khắp cả nước  đâu đâu cũng có sen, riêng Thủ đô đầu thế kỷ 20 còn  rất nhiều đầm  sen mênh mông như: Vọng, khu vực cuối phường È Quốc Toản, Liên Trì (ao sen), Lĩnh Nam, Định Công... Nhưng nói tới sen thì ít nơi đâu hơn  được sen Tây Hồ. Do thổ nhưỡng, khí hậu, đặc biệt là nguồn nước hồ Tây đã tạo nên  giống sen quý ở đây. Sen Tây Hồ  quý vì bông lớn khi nở to như nhị bàn tay mở, có trăm cánh (còn được  gọi là Bách Diệp) xếp lớp bao bọc lấy nhụy, đài và  gạo, giữ cho sen  mùi thơm trong sáng, ngát đượm.

Cho đến nay chưa sắm thấy sách nào ghi sen ở hồ Tây có từ bao giờ nhưng Đại Việt sử ký đã nói tới ly cung, biệt điện, tư thất của các vương hầu, công chúa, quan đại thần triều Lý kế bên những vạt sen thơm ngạt ngào ở  Hồ Tây. Sở dĩ ly cung, biệt điện xây dựng bên vạt sen vì nhà Lý được coi là triều đại quân chủ Phật Giáo và hoa sen là  biểu trưng nhiều mặt trong Đạo Phật.

Đến nhà Nai lưng, Hồ Tây cũng là nơi nghỉ dưỡng, tiêu khiển  cho các đại quan. Dĩ nhiên đến nhà Lê thì phổ biến ly cung biệt điện đã đổ nát. Vua Lê Tương Dực (1509-1516), một ông vua nhiều người biết đến ăn chơi trong lịch sử phong kiến Việt Nam đã  cho sang sửa hành cung ở Dâm Đàm khiến chỗ nghỉ dưỡng. 

Đại Việt sử ký chép, ông "vua lợn" này bày ra trò chơi "ngọc nữ hái hoa sen". ngừng thi côngĐây là bắt cung nữ trút bỏ váy áo ở trằn giả làm tiên nữ chèo thuyền hái sen nở trong hồ để vua xem.

Sen đi vào ca dao Việt Nam như một biểu tượng đẹp tươi, sạch sẽ, thanh nhã:

Rủ nhau ra tắm hồ sen,
Nước trong bóng mát, hương chen cạnh chính mình.

Hay:

Hoa sen mọc bãi cát lầm,
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 15.

Nguồn: Buihang_97.

Còn với sen Tây Hồ, người đầu tiên làm cho thơ được ghi chép lại chính là vua Lê Thánh Tông, ông có bài Hoa sen bằng chữ Hán và Hoa sen non bằng chữ Nôm. Hoa sen non không chỉ đẹp mà thấy tâm hồn lãng mạn bay bổng của một ông vua có tài và tâm:

Dìu dịu Lam Điền ngọc mới tương,
Hồ thanh, sắc ánh, mặt dường gương.
Ngọc in làm đỏm tiền sơ đúc,
Chàm nhuộm nên màu, tán chửa giương.
Lạt biếc mới khai mày Thái mẫu,
Thắm hồng còn rất dị má Vương Tường.
Khách thơ hứng nghĩ hiềm chưa đủ,
Mười trượng hoa thì mười trượng hương.

Trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ và Tang hải ngẫu lục của Nguyễn  Án cùng viết về  thú chơi của chúa Trịnh Sâm trong trung thu năm 1774: "Ngày hôm đó chúa ngự trên ly cung Thụy Liên (sen ngủ). Dưới là sen trên bờ là cây phù dung bận bịu đèn lồng. Nhạc công hoặc ngồi trên gác chuông chùa Trấn Quốc hoặc ẩn chính mình dưới bóng cây, bến đá tấu nhạc".

Ở  Nghi Tàm có ngôi miếu ở ven đường can hệ tới sen hồ Tây là miếu Bà Cô. Tương truyền cô gái họ Đoàn này đi thuyền hái sen dâng lên phủ hành cung Thụy Liên của chúa Trịnh nhưng chẳng may thuyền bị đắm cô bị chết, dân Nghi Tàm cho là cô chết trẻ nên thiêng đã lập miếu thờ.

Sen trong bài  Thăm chùa Trấn Quốc của Phạm Quý Thích (1760-1825) là "Mười dặm hương sen theo gió thoảng" và "Giữa đám sen dày thuyền lướt mau". Thượng kinh ký sự của đại danh y Lê Hữu Trác kể chuyện ông chữa bệnh cho chúa Trịnh ở biệt  điện bên hồ Tây và sen đã cho ông cảm xúc đến mức bật ra thơ. 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 16.

Ở nhiều địa phương, người ta chỉ sử dụng hạt, củ và tâm sen nhưng ở Thủ đô cây sen gần như không bỏ đi thứ gì. Dân vòng vèo Hồ Tây hái  lá già bán cho các bà, các cô làng Vòng. Cốm đầu nia gói trong lá sen già thì không gì bằng vì nhì mùi quyện tham gia nhau tỏa mùi thơm thanh dịu trong tiết thu nhạt nắng. Dân làng Tương Mai  thường dùng lá sen non gói xôi lúa vì xôi không dính lá và mùi thơm lá sen kích thích vị giác của người ăn; nhụy dùng để ướp chè, nấu rượu  và hoa để ăn uống rất thanh tao.

Chuyện cũ bên dòng sông Tô của Viên mai Nguyễn Công Chí chính là tộc phả dòng họ Nguyễn Đình (làng Duyên Thái, thị xã Thường Tín, Thủ đô) lập nghiệp ở phường Hàng Ngang từ thế kỷ XVII. Dòng tộc này không chỉ giầu có, nổi tiếng về  sự hiếu học ở đất Thăng Long mà còn nhiều người biết đến về khôn khéo trong nghệ thuật ướp chè sen Tây Hồ. Đầu thế kỷ XX, dân các làng Tây Hồ, Nghi Tàm, Quảng Bá tậu hoa sen của các chủ thầu gánh tham gia  chợ Đồng Xuân và xã bao quanh bán từng gánh lớn cho các mái nhà lấy nhụy ướp chè sen và cho người chơi hoa.

Để có được mỗi gói trà sen, người ra thường phải thu hoạch sen trong khoảng rất sớm để có được hương vị thơm ngon nhất. Nguồn: Petrotimes - VNE.

Trong cuốn Hà Nội nửa đầu thế kỷ XX, về sen hồ Tây, nhà tìm hiểu Nguyễn Văn Uẩn viết: "Trước đây ven hồ phổ thông sen, về  mùa hạ sen mọc  kì lạ, lá xanh rờn, hoa đỏ bao la gió đưa hơi mát đượm hương thơm nức". Tuy nhiên sen mọc đa dạng nhất là ven bờ giáp các làng Nghi Tàm, Yên Phụ, Nhật Tân, Quảng Bá nhất là làng Tây Hồ vì đáy hồ không sâu, thoải thoải và ở đây còn có phổ quát đầm và ao.

Đấy quà đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý đây sen Tây Hồ 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 18.

Ngoài sen mọc tự nhiên, dân các làng này còn trồng thêm để làm vòng đai ngăn sóng hạn chế nhạo lở  đất. Khi người Pháp chiếm Thủ đô và khu vực hồ Tây trở thành ngoại thành năm 1889 thì chính quyền  đấu thầu quyền khai thác sản vật ở hồ gồm: cá, sen. Trúng thầu là người Pháp, họ cho người Việt thầu lại.

Sau năm 1954, nhà nước bãi bỏ thầu khai thác cá và sen hồ Tây. Năm 1958, Thủ đô xây dựng Xí nghiệp nuôi và khai thác thủy sản hồ Tây. Để có nhiều cá cung ứng cho cán bộ công viên chức, xí nghiệp đã nhập giống cá mè hoa của Trung Quốc nuôi đại trà, sợ loại cá có vảy lí tí bị chết do vướng gai ở thân sen nên đơn vị này đã cho phá bỏ rộng rãi vạt sen vòng vo hồ. Từ đó diện tích sen ở hồ bị thu nhỏ. Lâu nay, có phổ quát cặp luôn đi với nhau, bổ xung cho nhau để hoàn thiện cái đẹp. Ca dao có câu:

Sen xa hồ, sen khô hồ cạn
Liễu xa đào liễu ngả đào nghiêng
Như Thúy kiều xa Kim Trọng nhân thức mấy niên tái hồi

Vì mất sen nên thời bao cấp tham gia mùa hè, sóng hồ tiến công quá mạnh làm các nhà đất mép nước các làng Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ... bị  lở. Khu vườn chùa Thiên Niên bị sạt lớn còn trơ ngọn tháp. Những ngôi chiêu mộ ký chôn cất xây gạch cũng trơ ra. Trong bài Sen Tây Hồ, thi sĩ Bằng Việt viết năm 1995 có câu:

Giả như hồ sen cạn nốt
Khiến cho gì cho thấy ngày xưa?...

Dự án qui hoạch và xây bờ kè loanh quanh hồ chấp hành từ cuối những năm 1990 đã đặt dấu chấm cho sen trong hồ. Hiện sen chỉ còn ở vài đầm như Đầm Trị hay gần Những nơi công cộng nước Hồ Tây. Tuy thế, có thể thấy nhựa sống của sen Tây Hồ vẫn vô cùng mãnh liệt, sen đang quay về với đời sống tiến bộ như chúng ta thấy bây giờ.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 19.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 20.

Như đã nói lúc trước, Hồ Tây là nơi sản hình thành tâm thức của người Thăng Long nói riêng, người Việt cổ lỗ nói bình thường. Và tiềm thức đó thể hiện rõ nhất ở các trị giá tinh thần, tôn giáo. Cho nên, không quá ngạc nhiên khi bao quanh Hồ Tây người xưa đã xây dựng một quần thể đình chùa bát ngát và cực kì phong lưu.

Trong đó, đầu tiên hãy nói về chùa Trấn Quốc. Chùa Trằn Quốc ngày xưa là chùa Khai Nguyên, nằm ở ngoài đê sông Hồng. Sau đên thời Lê, do bị nước ngập, dân làng mới xin chuyển nó vào trong đê. Ở đó ngày xưa cũng là một ngôi chùa rất đẹp mà cư dân làng Im Phụ thường cho đó là của làng chính mình. Bằng cớ là cho đến ngày bữa nay, vào dịp giỗ chạp hội làng Im Phụ, cư dân vẫn ra chùa rước nước từ chùa về đình, rồi trong khoảng đình ra chùa. Nhưng ngày xưa có một con đường đê đắp nối từ làng ra chùa thì lễ rước sẽ dễ dãi hơn.

Còn về chùa Trấn Quốc, từng có một thời gian bị bỏ trống, cũng có một thời gian đó là nơi thường đưa các cung nhân ra đó, gọi là hành cung của nhà Lê, của các Chúa, đêm đêm có nghe tiếng đồng chí rất bi tráng. Chùa đó ngày xưa trấn thủ một phía của Thăng Long, nhưng không nằm trong Thăng Long Tứ Trấn. Đầu thế kỷ 20 kéo dài đến năm 1954, có cực kì phổ biến người chết đuối ở Hồ Tây. Vì thế nên chùa Trấn Quốc là nơi người ta đưa vong, đưa xương cốt của người đã bị mất đi tới. chậm triển khai là đặc điểm gắn liền với Hồ Tây lớn nhất của chùa Trấn Quốc.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 21.

Chùa Trấn Quốc. Nguồn: Vietravel.

Thời đó, xung quanh những câu chuyện thương tâm trên là các lời phao đồn đáng sợ mang tính mê tín dị cam đoan. Quành Hồ Tây tới hiện giờ vẫn còn đông đảo người bịa chuyện ra những chuyện như vậy. Ngay như năm rồi năm kia, một tờ báo nào đó đưa là dưới đáy Hồ Tây là lăng mộ xương. Ngày xưa cũng có một nghĩa trang, một số nghĩa trang làng. Tha ma của làng Im Phụ, nghĩa trang của làng Quảng Bá dưới Hồ Tây khi nước hồ dâng lên đã nhấn chìm nghĩa trang, nhưng các mái nhà đã kịp bốc hài cốt lên, không hề ngập ngay trong một thời gian ngắn. Có đa dạng người đơm đặt ra những yếu tố rất bi ai cười, chả hạn như thuỷ quái rồi hồn ma đủ thứ.

Sau chùa Trấn Quốc, còn có thiếu gì các sự tích kì bí liên quan đến những đình, chùa khác như đền Quán Thánh, chùa Kim Liên, chùa Tảo Sách, chùa Hoàng Ân, chùa Vạn Niên… Nhưng đặc sắc nhất có nhẽ sẽ là câu chuyện về chùa Bà Đanh – một trong những sự tích quần chúng thường lầm lẫn phổ thông nhất.

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 22.

Chùa bà Đanh ngày xưa sinh ra vào khoảng thế kỷ 15 khi vua Lê Thánh Tông đi tiến công Chiêm Thành, sau thắng lợi ông đã bắt ra rộng rãi tù binh người Chăm đưa ra họ ra Thăng Long và lập ra một khu riêng cho họ cho họ sinh sống đặt tên là Viện Châu Lâm. Còn người Chăm vừa có Hồi giáo, vừa có đạo Phật nên mới cho xây một ngôi chùa để cho họ cúng bái. Nhưng rồi ngôi chùa đó cứ vắng dần, là tại sao? ngừng thi côngĐây là bởi theo thời gian, trong khoảng thế kỷ 15, nhiều người Chăm hợp huyết với người Việt, lấy bà xã lấy chồng người Việt, nên Viện Châu  Lâm thưa dần. Rồi nhiều người muốn trở về quê nên các triều vua cũng ưng thuận nên càng ngày chùa càng vắng dần. Người Việt thì không vào đó, chùa chỉ có người Chăm thành ra ngôi chùa trở nên vắng vẻ. Mặt khác, tên của bà vãi trong chùa ấy gọi là bà Đanh nên người ta mới có câu "Vắng như chùa bà Đanh"

Chùa bà Đanh của người Chăm trước kia ở khu vực trường Chu Văn An bây giờ (bên trái). Chùa bà Đanh ở Hà Nam (bên phải). Nguồn: Anninhthudo-Baodulich.

Ở Kim Bảng, Hà Nam cũng có một ngôi chùa tên là Bà Đanh nhưng không phải là nơi cỗi nguồn của câu thành ngữ kia. Thực tiễn, ngôi chùa này nằm ở chân núi thì bao giờ cũng vắng. Hơn nưa, ngay cả từ chân núi đi ra làng gần nhất cũng  khá xa. Chùa này vắng người tương hỗ chứ không phải vắng người đi lễ. Tục truyền, có một người thiếu phụ họ Đinh đã bỏ tiền ra xây chùa nhưng ngày xưa thì chẳng có người nào giàu đến mức đó, xây chùa thì chỉ có vua, quan lại, chỉ có tiền của nhà nước thôi, nhất là thời Lý. Mà Đinh người ta gọi là Đanh nên mới gọi là chùa bà. Đầu đuôi câu chuyện có nguyên do như thế nên chùa bà Đanh là ở chỗ trường Chu Văn An hiện thời mới là nơi xuất xứ của câu thành ngữ. 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 24.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 25.

Dù là ở công đoạn nào, Hồ Tây với lượng nước lớn lao của bản thân mình cũng mang lại sinh cơ cho cư dân bao quanh và thậm chí cả những khu vực lân cận. Thuở xưa, người ta có thể thuận lợi kiếm sống nhờ tham gia nghề cá, nhờ vào thủy sinh của hồ hay nhờ tham gia chính hệ sinh thái giàu sang nơi đây. Còn đối với những ngôi làng gần đó, như làng giấy Yên ổn Thái, làng dệt Bái Ân, làng rượu Thụy Chương, làng chuỗi tơ Nghi Tàm… nguồn nước từ Hồ Tây là thứ không thể thiếu.

Trong quá trình sông Thiên Phù và sông Tô lịch còn chưa bị lấp, vào mùa mưa nước sông Hồng tham gia Hồ Tây đã mang theo đa số tôm cá. Vào hồ gặp gỡ vấn đề kiện thuận tiện, chúng sinh sôi nảy nở, phát hành mạnh khỏe và hoàn toàn là khởi thủy tự nhiên. Bởi vậy các làng nói quanh nói quẩn hồ như Im Phụ, Nghi Tàm, Xuân Tảo, Võng Thị hiện ra nghề đánh cá. Xa xưa như bài Tụng phú Tây Hồ của Nguyễn Hữu Lượng cũng đã có ghi chép về việc này:

"Chày Yên ổn Thái nện trong sương chểnh choảng 
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co".

Lúc đó, tôm cá, thủy sinh rất giàu sang vì các nguồn cá trong khoảng phía thượng lưu sông Hồng đổ về có đủ các loại, có cá gáy chính mình đỏ, các chép chính mình trắng rồi cá trắm đen… nhưng để nói về đặc sản rất nổi tiếng của Hồ Tây, đó phải là cá gáy đen, chúng đen bóng như nhung và bắt lên thì da lóng lánh như the vậy. Rồi cũng không thể không nhắc tới tôm hồng hay cà cuống, sâm cầm, những đặc sản nổi tiếng ở Hồ Tây trong rộng rãi thế kỷ. Cho đến những năm 60 70 của thế kỷ XX, ở Hồ Tây còn đa số cà cuống, nhưng hiện giờ tuyệt nhiên không thấy đâu nữa.

Liên tục phổ thông thế kỷ, các triều đại quân chủ cho đại chúng quanh hồ được hòa bình tấn công cá coi như hoa lợi của làng nhưng sau này thì mọi chuyện lại khác. Sông Thiên Phù biến mất rồi sông Tô Lịch cũng bị lấp dần, nguồn nước đem theo phù sa và thủy sinh phì nhiêu từ sông Hồng tham gia không còn, Hồ Tây chỉ còn có thể chờ mong tham gia nhân tố "nhân tạo".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 26.

Tranh vẽ một làng cũ rích bao quanh Hồ Tây. Nguồn: Sungroup.

Sau khi Pháp xâm lăng Hà Nội thì mọi chuyện có rộng rãi đổi mới. Năm 1889, chính quyền thị trấn khởi đầu đấu thầu việc khai thác Hồ Tây chứ không còn được tự do kiếm lợi trong khoảng nơi đây nữa. Ai trả cao hơn sẽ là người có quyền vừa được tấn công cá, vừa được khai thác sen… Nói tóm lại là được làm mọi thứ trong thời gian trúng thầu của chính mình và thủy sinh của Hồ Tây hiện giờ hoàn toàn phụ thuộc vào những người trúng thầu. Dĩ nhiên, cơ chế này không làm cho ưng ý những dân cư sinh sống ven hồ. Nguồn hoa lợi từ hàng trăm năm nay không còn mà bắt buộc "sắm vé" để có thể tiếp tục công tác của bản thân nên số đông người đã bỏ làng, bỏ nghề.

Bên cạnh, cũng về chuyện thủy sinh, còn một thứ "đặc sản" được phát hành bởi sự nắm bắt nhầm. ngừng thi côngĐây là ốc Hồ Tây. Nhiều người truyền tai nhau nghĩ rằng, đã lên tới Hồ Tây là phải ăn bánh tôm rồi bún ốc, thế mới là phương pháp thưởng thức đúng điệu song phần nhiều đều đã nhầm. Nói về bún ốc, ở Hà Nội chỉ có hai làng nhiều người biết đến với truyền thống của bản thân. Một là làng Pháp Vân với bún ốc nóng, còn lại là làng Khương Thượng với món bún ốc nguội. Còn về nguyên nhân quần chúng hay nhầm lẫn, phải hiểu được rằng: "Nói bún ốc Hồ Tây là người ta nói bừa, nói ẩu vì con ốc Hồ Tây thì mãi tới năm 1960 của thế kỷ trước, công ty cá Hồ Tây mới xuống Ninh Bình, Hà Nam mang về thả cho cá trắm ăn thì mới xuất hiện con ốc Hồ Tây, chứ trước đó cũng có nhưng rất ít chứ chẳng thể thành đặc sản như cá chép đen hay cà cuống".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 27.

Ngoài ra sen, Hồ Tây còn được biết đến với một loài hoa khác cũng được xem như một biểu trưng của Hà Nội, đó là những cây đào đỏ thắm sắc xuân. Theo truyền thuyết, ngày 5 tháng Giêng, sau khi đại phá quân Thanh, vua Quang đãng Trung từng sai lính chạy ngựa từ Thăng Long mang một cành đào Nhật Tân về Phú Xuân tặng vợ yêu là công chúa Ngọc Hân.

Đối với gốc gác xưa của làng đào Nhật Tân phải nói là đã rất lâu đời rồi. Khi ấy, có An Nam độ hộ phủ đóng ở vùng nay và quân nhân nhà Các con phố sang đây không biết bao giờ mới đi về bởi họ phải đi theo niên hạn, không có cái gì tính thời điểm nên mới trồng hoa đào. Hoa đào cũng ko phải mang trong khoảng Trung Quốc sang mà là họ lên dãy Hoàng Liên Sơn lấy hoa đào rừng mang về trồng. Cứ mỗi mùa hoa đào nở thì họ nhân thức đấy là một năm. Và qua mấy mùa đào thì họ biết bản thân đã ở bao lâu, từ đó mới hiện ra làng đào Nhật Tân. Nhưng thời đó cũng chỉ là trồng chơi chứ chưa thành làng chuyên trồng đào. Mãi đến cuối thế kỷ 19, Nhật Tân mới chính thức biến thành ngôi làng chuyên trồng đào.

Từ lâu, hoa đào đã biến thành một nét đẹp trong văn hóa người Thủ đô. Nguồn: Caoanhtuan - Maikhanh.

Thực tế, đào bích không hề giống đào của Việt Nam. Nó phát xuất từ một tích rất ly kỳ. Chuyện kể rằng, rất lâu trước đó, có một vị khách phương xa, mang đến đền Quán Thánh tặng cành đào, thì nhà sư trụ trì thấy cành đào bích đẹp quá nên mới trồng ở đó. Sau này mới mang lên nhờ ông Nam Nguyên ở làng Nhật Tân ươm hộ. Chính mình còn lên mình khảo xem Nam Nguyên là ông nào mà không ai biết hết cả. Vì thế, mới suy ra đào bích là giống trong khoảng TQuốc sang vì cây đào với người China rất cần thiết". 

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 29.
Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 30.

Năm 1801, chúa Nguyễn Ánh đem thủy quân tiến công đế kinh Phú Xuân, vua Tây Sơn là Nguyễn Quang quẻ Toản phải bỏ chạy ra Thăng Long. Ở đây Nguyễn Quang Toản sai đắp cộng đồng Phương Trạch tại hồ Tây để khiến lễ tế trời đất, sai Nguyễn Huy Lượng là Chương lĩnh hầu, đảm nhiệm quan Phụng nghị bộ Lễ, biên soạn một bài  phú, đọc trong lễ tế. Và bài  Tụng phú Tây Hồ  được Nguyễn Quang đãng Toản rất ý hợp tâm đầu nên  ban thưởng cho Lượng hai  quan tiền đồng.

Tụng phú Tây Hồ  có câu ngắn, câu dài, lại độc vận (vần hồ) khiến người đọc ham, rù rì đọc từng chữ, từng câu. Dư âm của nó quấn quýt mãi không rời. Những từ láy lần đầu phát ra từ bài văn chẳng bao giờ lặp lại  đã diễn đạt mọi khía cạnh của hồ Tây, trong khoảng lịch sử, cảnh đẹp đến các truyền thuyết cổ kính, sản vật... Bài phú được dân Thăng Long truyền khẩu và sợ quên nên ai khách hàng nào cũng chép bài thơ này khiến giá giấy và giá mực tăng vọt.

Bài phú mở màn như thế này:

Lạ thay cảnh Tây hồ!
Lạ thay cảnh Tây hồ!
Trộm nhớ thuở đất chia chín cõi,
Nghe rằng đây đá mọc một gò 
Trước Bạch Hồ tham gia ở đó làm hang, Long vương trổ nên vùng đại trạch, 
Sau Kim Ngưu  do tham gia đây hóa vực, Cao vương đào chặn mạch hoàng đô 
Tiếng nghe gọi Dâm Đàm, Lãng Bạc,
Cảnh ngầm in tinh chử, băng hồ 
Sắc rờn rờn nhuộm thức lam xanh, ngỡ động bích nổi lên dòng lẻo lẻo,
Hình lượn lượn uốn vòng trăng bạc, tưởng vầng ngân rơi xuống mảnh nhò nhò…

Hay như:

Tòa Kim Liên sóng nổi mùi hương, chùa Trấn Quốc tưởng in vùng tĩnh phạn
Hàng cổ thụ gió rung bóng lục, tràng Phụng Thiên nhận sẵn thú Nghi, Vu 
Dấu Bố Cái rêu in nền phủ 
Cảnh Bà Đanh hoa khép cửa chùa 
Trông mơ mòng dường đỉnh Thứu  nơi kia, một vài tổ thước cuối làng kêu chích chích,
Nghe phảng phất ngỡ động Đào mai nọ, mấy tiếng gà trong trại gáy o o
Lò Thạch Khối khói tuôn nghi xỉu ,
Ghềnh Nhật Chiêu sóng giật ì ồ,
Rập rềnh cuối bãi Đuôi nheo, thuyền thương khách hãy chen buồm bươm bướm,
Thanh lảnh đầu hồ Cũ rích ngựa tháp cao tăng còn hé cửa tò vò.
Chày Lặng Thái nện trong sương chểnh choảng 
Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước ngoằn ngoèo…

Năm 1802 triều Tây Sơn sụp đổ,  Nguyễn Huy Lượng bị bắt  khi đội quân nhà Tây Sơn rút khỏi Bắc thành. Trung thần Tây Sơn là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích bị giải tới Văn Miếu sỉ nhục. Nhậm bị tiến công trọng thương về tới nhà  thì chết. Tổng trấn Bắc thành là Nguyễn Văn Thành định thịt Lượng nhưng có người khuyên không nên giữ lại dùng vì Lượng có tài văn học. Nghe lời khuyên,  Nguyễn Văn Thành không thịt mà cho Lượng khiến cho  tri phủ Xuân Trường (Nam Định). Nhân Nguyễn Ánh lên ngôi vua, Nguyễn Văn Thành công ty lễ mừng ở Bắc thành đã sai Nguyễn Huy Lượng làm bài văn tế các tướng sỹ nhà Nguyễn trận vong. Bài văn tế do Lượng soạn rất lâm ly, tụng ca công trạng của  tướng  sỹ chúa  Nguyễn đã hủy hoại nhà Tây Sơn thế nào. Khi đọc ai cũng đánh giá tốt bài văn tế tuyệt bút. Các nhà Nho đương thời dù phục tài thơ Lượng nhưng chê bảo Lượng chẳng phải là người tiết tháo, nhà Nho trượng cu li thì "Uy vũ bất năng khuất".

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 31.

Toàn cảnh Tây Hồ lúc hoàng hôn. Nguồn: Daidoanket.

Khi đọc Tụng phú Tây Hồ, Phạm Thái vốn phù Lê chống Tây Sơn,  nể phục văn chương của Lượng song ghét Lượng từng phù Lê nay xu thời phù Tây Sơn đã họa lại và lấy tên là Tụng chiến Tây Hồ với cùng số câu, cùng vần. Về chế độ Tụng chiến Tây Hồ  đối nghịch từng câu từng chữ với Tụng phú Tây Hồ, về nội dung thì  bác bỏ bỏ, có khi thóa mạ…

Cho đến bây giờ, Tụng phú Tây Hồ  vẫn nguyên lành trị giá nghệ thuật. Nhưng thêm vào đó nó còn có giá trị lịch sử. Bởi khi đọc bài phú có thể mường tượng  Thăng Long qua các gia đọan và hồ Tây thế nào. Ví dụ đọc câu Lò Thạch Khối khói tuôn nghi ngất ta biết Thạch Khối xưa có lò nung vôi và các lò  vôi nằm sát đê Yên ổn Phụ (đoạn đầu các con phố Thanh Niên hiện  nay) nhưng do cát bồi và sông Hồng đoạn này đã đổi dòng.      

Ngược Tô Lịch lên long mạch Tây Hồ: Vì sao là địa linh nghìn năm, xứ sở sen ít nơi nào sánh được? - Ảnh 32.

Phải chắc chắn lại một lần nữa, Hồ Tây có tầm vóc vô cùng trọng yếu xuyên suốt các công đoạn lịch sử của Thăng Long, Thủ đô. Nó là nơi sản xuất hiện, lưu giữ lại và tiếp tục phát triển các giá trị vật thể và phi vật thể của thủ đô.

Thực tại, thời Pháp thuộc, ngay trong các công trình quy hoạch lại Thủ đô, người Pháp đã xác định chọn Hồ Tây là trọng tâm của Thủ đô sau này. Thậm chí bản quy hoạch năm 1943 đã được Toàn quyền Đông Dương phê phê duyệt nhưng đáng tiếc, sự xuất hiện của quân Nhật đã làm toàn bộ ý tưởnrg chẳng thể khai triển. Sau này, trong quy hoạch Hà Nội năm 1992, được chính phủ phê duyệt y, người ta đã xác định sẽ xây đắp Hồ Tây thành khu ngao du tầm cỡ nhưng thực tiễn thì cũng chưa khiến cho gì cả. Các công trình tự phát mọc lên như nấm, một số làng trong quy hoạch được giữ lại như Yên Thái, Võng Thị thì không giữ được, nhà cửa xây cồng kềnh, đất bán hết làm nó không còn vóc dáng một ngôi làng cũ kĩ nữa và đa số những mục định khai thác trong quy hoạch bị phá đổ vỡ và cũng không còn đất để mà chấp hành.

Ví dụ như ngay bây giờ Hồ Tây cần một trạm xe buyt giải trí phong cách, xứng tầm thủ đô chứ chẳng hề là một những nơi công cộng nước bao năm không đổi mới. Trước đó khi vực đó toàn là ruộng nhưng sau này tới năm 1995, tức là cách đây 24 năm, lập ra một tổ chức kinh doanh của thành ủy và tiếp tục xây dựng một phố đi bộ dưới nước, tuy nhiên, cho tới bây chừ vẫn chỉ thế thôi. Thực tế, hiện nay nhà thờ nước sống chính bằng bán hàng ăn và làm cho nhà cho thuê xung quanh. Nhưng nơi đó lại thiếu những hoạt động diễn ra quành năm, mùa hè còn bơi được, trượt nước được nhưng mùa đông thì phải làm cho gì?

Để khai thác được Hồ Tây đúng với trị giá của nó đem đến, trước hết nhân tố hiện thời cần có là một bảo tồn về Hồ Tây. chậm tiến độ sẽ là một nơi người ta tới để nhân thức về lịch sử Hồ Tây, qua đó nhân thức 1 phần lịch sử Thủ đô, 1 phần lịch sử Việt Nam và nhân thức được cả về tâm thức của người Việt. Trong đó có phải sen Hồ Tây, phải có thủy sinh, phải có đình, chùa… phải ghi lại đa số những trị giá xưa.  

Đời sống Hồ Tây dù êm ả nhưng luôn để lại dấu ấn đậm nét. Ảnh tổng thích hợp.

Nhưng đó chỉ là một phần, đối với việc khai thác các giá trị của Hồ Tây, dứt khoát phải có các hoạt động, trò chơi trên mặt nước. Mặt nước Hồ Tây bao la như thế, ví như không tận dụng thì thực thụ là phí hoài. Trị giá mà Hồ Tây sản xuất nếu như như đi đúng hướng có thể đến trong khoảng cả khách tham quan trong và ngoài nước, miễn là có đủ "dịch vụ du lịch" cung cấp cho họ. Thêm vào đó, hoàn toàn có thể tạo dựng ra các dịch vụ tham quan trục đường thủy, đi bao quanh hồ. Hay nói cụ thể hơn là các tour du lịch văn hóa – tín ngưỡng tại các điểm di tích tín ngưỡng. Tuy nhiên, đối với ý tưởng này, cam đoan sẽ có những gian nan đến trong khoảng chi tiêu rất lớn để đầu cơ hạ tầng vật chất xây dựng bến bãi đậu thuyền hay tới từ chính việc xử lý các nguồn thu nhập tới từ tour ngao du bởi Hồ Tây quá lớn, nó trải rộng trên địa bàn phổ thông quận. Nhưng quả thật, giả dụ đủ quyết tâm, nếu như gần như tầng lớp trong phố hội đều thông thường tay thì việc phục dựng trị giá Hồ Tây hay sử dụng triệt để khai thác hết tiềm năng của nó là hoàn toàn khả thi.

* Ngoài nội dung chính là các ghi chép của phóng viên trong cuộc chạm chán với nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến, chúng tôi cũng sử dụng vài tài liệu, hình ảnh trong tòa tháp đang viết của anh để dựng lên một bức tranh thu nhỏ xíu về Hồ Tây dịch vụ quý độc giả.

Nhà văn, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến

Trần Hải Trung

Đỗ Linh

29/08/2019

Xem nhiều hơn: mua nha

0 nhận xét:

Đăng nhận xét