Thứ Sáu, 23 tháng 8, 2019

Hào khí dân tộc trong các bạn dạng Tuyên ngôn chủ quyền

KỶ NIỆM 50 NĂM THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (1969-2019)

 - Thực tiễn đã đưa đến chân lý, chỉ khi quyền hòa bình dân chủ được đề cao và phát huy thì độc lập độc lập tổ quốc mới được bảo vệ vững chắc, nước nhà mới hùng cường, cơ chế chính trị mới lớn mạnh.

Lịch sử nhiều nghìn năm ở cạnh đất nước láng giềng bát ngát và luôn có mưu đồ và hành động thôn tính các nước lân bang, lịch sử hàng trăm năm tranh đấu giành chủ quyền với các đội quân viễn chinh phương Tây đã un đúc nên chí khí, cốt bí quyết bất khuất của dân tộc vietnam trong chiến đấu kiểm soát an ninh chủ quyền, chủ quyền quốc gia trước các thế lực ngoại bang.  

Chí khí và cốt bí quyết đó được kết tinh trong các bản tuyên ngôn chủ quyền của dân tộc. Rồi chính các phiên bản tuyên ngôn đó lại truyền dũng khí và sức mạnh cho mỗi cư dân và cho cả dân tộc thắng lợi mọi thần thế xâm chiếm.

Ba bạn dạng Tuyên ngôn ghi đậm dấu ấn cốt cách thức của dân tộc trong lịch sử là:

Bản Tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà” năm 1076

“Nam quốc sơn hà” là Phiên bản Tuyên ngôn bằng thơ của Lý Thường Kiệt, thành lập trong bối cảnh nước ta đương đầu với họa xâm chiếm của nhà Tống và được xác định là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc vietnam.

Bốn tuần 3 năm 1076, nhà Tống sai 9 tướng, do Quách Quỳ khiến cho Chiêu thảo sứ và Triệu Tiết làm cho Phó Chiêu thảo sứ đưa 10 vạn quân cùng 20 vạn dân cu li sang xâm lược nước ta.

Hào khí dân tộc trong các bản Tuyên ngôn độc lập
Hình ảnh gần cận, thân thiện của Chưng Hồ khi chạm mặt bà con nông dân. Ảnh tư liệu

Hoàng đế Lý Nhân Tông đã giao cho Lý Thường Kiệt - một trong những danh tướng khổng lồ tạm thời nhà Lý làm cho tổng lãnh đạo quân Đại Việt Đương Đầu quân xâm lược phương Bắc hùng hậu trên phổ quát chiến trận. Trước sức mạnh của quân xâm lược, có lúc quân ta lâm vào tình thế gian nan.

Trong tình thế đó, Lý Thường Kiệt đã đọc bài thơ “thần” nhằm động viên ý thức của binh sỹ và tỏ rõ ý chí, phấn đấu đánh tan quân xâm lăng, bảo vệ vững chắc chủ quyền tổ quốc:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch nghĩa:

Nước non nước Nam vua Nam ở

Sờ sờ định phận tại sách Trời.

Cớ sao bầy đàn giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị tiến công tơi bời.

Chỉ 4 câu thơ nhưng đã thể hiện vừa đủ và khẳng định khỏe khoắn độc lập của dân tộc, là chân lý linh nghiệm, bất di bất dịch và khẳng định quân dân Đại Việt sẽ trừng phạt đích đáng quân xâm lược.

Bối cảnh xuất hiện bài thơ mang màu sắc thần bí, không chỉ truyền đến cho quân dân Đại Việt sức mạnh ý thức to lớn mà còn khiến cho ý thức quân giặc hoang mang.

Nhẩn nha cuộc chiến đảo chiều, quân ta choán ưu thế. Khi quân Tống lâm vào thế bí, Lý Thường Kiệt sai sứ sang "nghị hòa". Quách Quỳ đã ưng ý giảng hòa và rút quân về nước.

Bài thơ “Nam quốc sơn hà” mang toàn vẹn nội dung, ngụ ý của một phiên bản tuyên ngôn độc lập. Đầu tiên đã biểu thị tinh thần tự tôn dân tộc qua việc xưng “đế” của vua Đại Việt, đồng nghĩa đặt ngang hàng với vua Tống. Đồng thời vừa khẳng định độc lập cương vực bờ cõi vừa biểu hiện ý chí của toàn dân tộc phấn đấu tấn công tan quân xâm lược kiểm soát an ninh độc lập, chủ quyền non sông.

Đây là nhân tố cấm kỵ đối với các nước nhà lân bang của các triều đại phong kiến Trung Quốc kể trong khoảng thời Tần Thủy Hoàng. Vì họ tự cho rằng các hoàng đế Trung Hoa là chủ người đời, các nước khác chỉ là chư hầu, vì thế chủ tịch chỉ được xưng Vương.

Lý Thường Kiệt không thừa nhận đơn độc tự áp đặt đó, khảng khái khẳng định vua nước Nam cũng là hoàng đế ngang hàng với hoàng đế phương Bắc.

Ví như hoàng đế phương Bắc đưa quân xâm lăng xâm phạm độc lập nước Nam thì sẽ bị trừng trị đích đáng.

Phiên bản tuyên ngôn “Bình Ngô đại cáo” năm 1428

Sau khi thành công quân Minh, ngày 29/4/1428, Lê Lợi khiến cho lễ lên ngôi và giao cho Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo” để bá cáo với thần dân cả nước. Đây là bản tuyên ngôn chủ quyền thứ nhì của Đại Việt.

Ví như “Nam quốc sơn hà” dùng yếu tố thần bí để khẳng định độc lập của quốc gia (Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư), thì “Bình ngô đại cáo” khẳng định độc lập quốc gia bằng hạ tầng công nghệ, pháp luật và thực tế; được minh chứng bằng thực tại lịch sử, văn hóa đầy tính thuyết phục:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Núi sông lãnh thổ đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trằn bao đời xây nền độc lập

Cùng Hán, Trục đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương”.

Bạn dạng tuyên ngôn độc lập thứ hai đã khẳng định mạnh bạo quyền độc lập, tự chủ của Đại Việt - non sông có bờ cõi riêng, có nền văn hiến và lịch sử lâu đời, có phong tục tập quán riêng, và có các triều đại quân chủ sánh ngang với phương Bắc. ngừng thi côngĐây là một thực tế chẳng thể chối bào chữa.

Phiên bản “Tuyên ngôn chủ quyền” năm 1945

Sau khi Cách mạng tháng Tám chiến thắng, ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, trước quốc dân đồng bào Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố khai sinh nước vn dân chủ cộng hòa bằng phiên bản “Tuyên ngôn độc lập” bất hủ.

Bạn dạng Tuyên ngôn chủ quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành bất hủ là bởi quan niệm, lối suy nghĩ của Người về quyền hòa bình, quyền mưu cầu hạnh phúc của mỗi cư dân; về ý chí chống chọi cho chủ quyền của dân tộc.

Sự uyên bác bỏ của Hồ Chí Minh còn biểu lộ ở sự hấp thụ thông minh lối suy nghĩ khai phóng của thế giới Áp dụng vào tình cảnh cụ thể của Việt Nam.

Đó là việc Người đã khéo léo trích dẫn Tuyên ngôn chủ quyền của Mỹ năm 1776 - Bạn dạng tuyên ngôn ghi dấu tác động của triết học khai sáng:

“Công chúng sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ có những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu vui vẻ.”

Và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789 - Giang sơn trước tiên xoá bỏ cơ chế quân chủ, xây đắp cách thức cộng hoà:

“Người ta hiện ra hòa bình và đồng đẳng về lợi quyền và phải xoành xoạch  được hòa bình và bình đẳng về lợi quyền.

Xong xuôi bản tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng hòa bình và chủ quyền, và sự thực đó biến thành một nước tự do, chủ quyền. Toàn thể dân tộc vietnam quyết đem đông đảo ý thức và nhóm, tinh mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, chủ quyền ấy".

Do cảnh ngộ lịch sử, Tuyên ngôn chủ quyền năm 1076 và Tuyên ngôn chủ quyền năm 1428 chỉ đề cập đến điều chủ quyền lãnh thổ và ý chí nỗ lực kiểm soát an ninh trọn vẹn lãnh thổ non sông.

Tới tuyên ngôn chủ quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã gắn liền chủ quyền dân tộc với quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu vui vẻ của cư dân. Trong thời đại tân tiến, nhị nội dung này cùng một nội hàm. Nếu tách rời thì đó chẳng hề là chỉ tiêu của một cuộc cách mệnh chân chính.

Trong nhiều bài nói và bài viết khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp diễn thể hiện sự quan trọng quyền tự do của người địa phương, vì quan điểm trước sau như một của Người là: “Hình thức ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được hòa bình.” [1]

Nhờ quan điểm gắn liền chủ quyền dân tộc với quyền hòa bình dân chủ trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nên sau khi non sông giành được độc lập, Người đã tập phù hợp được mọi giai tầng trong phường hội từ quan lại của Triều đình Huế đến nhân sĩ, trí thức, địa chủ, thợ thuyền, dân cày… trong cả nước chia thành sức mạnh to con của toàn dân tộc để hoàn thành vinh hoa tương lai chống chọi phóng thích non sông, hợp nhất đất nước.

Từ ý kiến tư tưởng của 3 bản tuyên ngôn độc lập, từ thực tiễn lịch sử dân tộc và thế giới, có thể rút ra một vài điều mấu chốt trong tương lai dựng nước và giữ nước:

Thứ nhất, bất cứ trong cảnh ngộ lịch sử nào, giới tinh hoa trong bộ máy nhà nước phải luôn lấy ích lợi, chủ quyền, độc lập tổ quốc làm tối thượng thì chủ quyền dân tộc và chủ quyền giang sơn mới được bảo kê vững bền. Ngược lại, chỉ một phút làm biếng, mất cảnh giác là cả dân tộc phải trả giá đắt.

Thứ nhì, gắn liền chỉ tiêu chủ quyền dân tộc với hòa bình dân chủ. Thực tiễn đất nước và nhân loại đã đưa tới chân lý, đó là chỉ khi quyền tự do dân chủ được đề cao và phát huy thì độc lập độc lập tổ quốc mới được kiểm soát an ninh vững bền, tổ quốc mới hùng cường, cơ chế chính trị mới tăng trưởng.

Thứ ba, trước bất cứ một thần thế ngoại xâm nào cũng phải sáng suốt, thức giấc táo để có đối sách phù hợp đó là kiên cường, quyết liệt nhưng không cứng ngắc, máy móc; mềm mỏng tanh nhưng không khoan nhượng, nhu nhược. Khác biệt, phải xoành xoạch tin ở dân, vì khi tổ quốc bị xâm lăng hoặc cương vực bị doạ dọa thì nhân nhân là thành trì kiểm soát an ninh độc lập lãnh thổ chứ chẳng hề bạn nào khác.

Thứ tư, hiện tại, khi chủ quyền quốc gia bị xâm phạm cần phải tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế. Vì kỷ nghuyên hiện tại không còn là thời nước lớn dùng vũ lực thôn tính bờ cõi, độc lập của nước nhỏ xíu.

Tất nhiên, nhân tố mang tính kỷ nghuyên này chỉ có trị giá khi chủ quyền, bờ cõi tổ quốc bị nước khác xâm phạm, chúng ta phải kịp thời công khai với các giang sơn trên nhân loại và phải đưa điều đó ra Liên Hiệp quốc.

Một phần biển đảo của non sông đã bị TQuốc xâm chiếm và hiện nay, China đang tiếp diễn xâm phạm thô bạo vùng đặc quyền kinh tế và thềm đất liền ở lãnh hải phía Đông Nam của nước ta thì việc đọc lại các phiên bản tuyên ngôn Chủ quyền là vấn đề cần thiết, để chúng ta thấy được trách nhiệm với dân tộc, càng thêm vững tin và quyết tâm bảo vệ độc lập biển, đảo của Đất nước.

Nguyễn Huy Viện

[1].Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.176.


Xem thêm: gia dat saigon

0 nhận xét:

Đăng nhận xét