Thứ Ba, 28 tháng 5, 2019

Tới năm 2030 vn phải nhập khẩu 5.000 MW điện

Phát biểu tại buổi hội thảo “Tậu giải pháp phát triển nguồn điện, đảm bảo an ninh năng lượng đất nước” do báo Tiền Phong đơn vị vào sáng nay 28/5, ông Lê Văn Lực, phó cục trưởng Cục năng lượng tái hiện, Bộ Công Thương cho hay, đến nay đã cơ bản khai thác hết các nguồn thủy điện lớn và vừa. Chỉ còn vài ít các công trình thủy điện nhỏ tuổi, hiệu quả thấp đang khai thác dần, tiềm năng khoảng 4.000-5.000 MW.

Theo ông Lực, điện năng chế biến trong khoảng thủy điện năm 2030 chỉ còn choán khoảng 12,4 %. Thủy điện có giá điện thấp nhất trong các loại nguồn điện, khoảng 1.000 đồng/kWh. Hình như đó, hiện thời vn đang nhập khẩu khoảng 1.000 MW, từ China và Lào. Trong thời điểm đến sẽ tăng mạnh nhập cảng điện. Dự kiến sẽ sắm thêm điện trong khoảng TQ, tìm trong khoảng Lào khoảng 3.000 MW tham gia năm 2025 và 5.000 MW tham gia năm 2030.

Đến năm 2030 Việt Nam phải nhập khẩu 5.000 MW điện - Ảnh 1.

Ông Lê Văn Lực, Phó cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái hiện, Bộ Công thương nghiệp

“Bộ Công Thương đang trình Thủ tướng Chính phủ sườn giá tìm điện trong khoảng Lào, để khiến cho cơ sở thảo luận tìm điện nhập cảng. Dĩ nhiên tiềm năng tìm cũng hạn dè bỉu và giá điện kỹ năng phải tương đương giá khu vực” – ông Lực nêu khó khăn.

Theo ông Lực, về nhân tố nhiệt điện khí, tổng công suất các nguồn điện khí hiện nay khoảng trên 7.000 MW, sử dụng nguồn khí ở mỏ Nam Côn Sơn, Cửu Long ở Đông Nam Bộ và PM3, Cái Nước khu vực Tây Nam Bộ. Trữ lượng các mỏ khí này mở đầu suy giảm.

Một vài công trình đang chuẩn bị đầu cơ sử dụng khí Lô B và mỏ Cá Voi Xanh có giá điện cao, phổ quát tài năng đủng đỉnh tiến độ. Giấy tờ đầu cơ phổ quát bước, thu xếp vốn gian nan, thời điểm đàm phán sản xuất mỏ kéo dài…

Với năng lượng tái tạo, các dự án điện mặt trời chủ công tập trung tại khu vực Miền Trung (Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Khánh Hòa); Tây nguyên (Gia Lai, Dăk Lăk); Việc bổ sung quy hoạch dồn vào một chỗ một số thức giấc dẫn đến quá vận chuyển hệ thống truyền vận chuyển hiện có, cần phải đầu cơ lưới điện 220-500 kV đồng bộ để giải tỏa công suất.

Đến năm 2030 Việt Nam phải nhập khẩu 5.000 MW điện - Ảnh 2.

Quang quẻ cảnh hội thảo

Tuy nhiên, điện mặt trời vận hành không ổn định do phụ thuộc thời tiết. Cần bổ sung nguồn dự phòng khi nguồn ĐMT dừng hoạt động. Giá điện cao, hiện thời khoảng 2.150 đ/kWh (9,35 Cent/kWh chưa có vũ trang lưu trữ điện). Vì vậy, cần tính toán kỹ lưỡng và có giải pháp phù hợp để bảo đảm hệ thống điện điều hành bình yên, bất biến khi tích phù hợp lượng công suất lớn điện mặt trời tham gia hệ thống.

Ông Lực nghĩ là, trong quá trình 2020-2030 và những năm tiếp theo, để đảm bảo cung cấp điện ổn định, phù hợp cho ý định phát hành kinh tế xã hội quốc gia, cần phải phát triển triển các dự án nguồn điện gồm: nhiệt điện than, nhiệt điện khí, năng lượng tái hiện, du nhập điện, với tỷ trọng các lợi nguồn phù hợp, bảo đảm các mục tiêu chủ chốt như đã đề ra trong Quy hoạch tạo ra điện lực non sông. Đồng thời với sản xuất năng lượng tái tạo, nhiệt điện khí thì nhiệt điện than vẫn là biện pháp cơ bản đảm bảo cung ứng điện với chi phí hợp lý, phù hợp với kinh tế giang sơn và thu nhập của người dân.

Dường như đó, ông Nguyễn Quốc Minh, Phó trưởng ban đảm đương Ban chiến lược phát hành, Công ty Điện lực vn – EVN nghĩ rằng, nguy cơ thiếu nguồn cung là rất lớn. Theo ông Minh, với vận tốc vững mạnh phụ chuyển vận hàng năm bình quân trên 10% như hiện thời, mỗi năm chuỗi hệ thống điện cần được bổ sung tối thiểu trên 6.000 MW công suất đặt. Năm 2018 toàn hệ thống điện mới đóng hộp và sắm được 212,9 tỷ kWh, khi mà theo Quy hoạch điện VII hiệu chỉnh thì đến năm 2030 cần đóng gói được 570 tỷ kWh. Hệ thống nguồn cần được bổ sung kịp thời để đảm bảo sản xuất thêm được hơn 360 tỷ kWh so với năm 2018 tham gia năm 2030.

Đến năm 2030 Việt Nam phải nhập khẩu 5.000 MW điện - Ảnh 3.

Ông Nguyễn Quốc Minh, Phó trưởng ban đảm trách Ban ý tưởnrg phát triển, Tổ chức Điện lực vn (EVN)

Theo Qui hoạch điện VII vấn đề chỉnh trong 5 năm 2018-2022, tổng công suất các nguồn điện dự kiến đưa tham gia vận hành là 34.864 MW, trong đó nhiệt điện là 26.000 MW. Thực tiễn bây chừ chỉ có 7 công trình NĐ than/ 7.860 MW đã được khởi công và đang triển khai xây dựng. Còn trên 18.000 MW các công trình nhiệt điện than dự định tham gia vận hành trong quá trình này nhưng tới nay chưa được khởi công xây đắp.

Hiện thời, giá điện chưa phản ánh đủ chi phí đóng gói điện và chưa tách bạch được chi phí công ích trong giá điện. Giá bán từng cái điện hiện giờ là giá quản lý của Nhà nước, là item năng lượng độc nhất do nhà nước quản lý, trong khi đầu vào như than, dầu, khí biến đổi theo giá hoạt động mua bán. Việc vấn đề chỉnh giá điện gian khổ và được vấn đề tiết ở mức thấp làm cho ngành điện thiếu thu thập để dịch vụ tái đầu cơ.

“Giá bán từng cái điện bình quân hiện giờ là 1.864,44 đồng/kWh, tương đương 8 Uscents/kWh. Sau khi trừ đi chi tiêu truyền chuyên chở và phân phối bán từng cái điện thì giá sàn điện từ các nhà máy không đủ sức hấp dẫn để thú vị các chủ đầu tư tham gia đầu tư dự án nguồn điện” – ông Minh thông tin.

Lý giải về giá điện, ông Nguyễn Quốc Minh, Phó trưởng ban đảm trách Ban kế hoạch phát triển, Tổ chức Điện lực Việt Nam – EVN cho rằng, giá điện thấp là một trong những cội nguồn không tạo động lực người sử dụng tiết kiệm điện. Các nhà đầu tư nhập máy móc, vũ trang cũ, tốn điện, hiệu suất thấp nhằm cắt giảm chi tiêu. Cường độ tiêu thụ điện Việt Nam tăng rất nhanh thời kỳ 2005-2017 trong khi xu hướng của trái đất cùng kỳ là không thay đổi. Năm 2005, cường độ tiêu thụ điện của Việt Nam trong khoảng thấp hơn China thì đến năm 2017 cao xấp xỉ gấp đôi TQuốc và gấp 3 làng nhàng trái đất. Nói phương pháp khác, năm 2017 để khiến cho ra 1 doanh nghiệp doanh thu vietnam đã tiêu thụ điện cao gấp 3 lần trung bình thế giới.


Theo Uyên Phương - Ngô Bình - Trọng Hưng vượng

Tiền phong


Xem tại: mua dat

0 nhận xét:

Đăng nhận xét